Khuyến học – Fukuzawa Yukichi


Fukuzawa Yukichi sau khi học ngành Hà Lan học, được tiếp cận nhiều với văn minh phương Tây, đã có sự đối chiếu so sánh với xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ, từ đó đúc kết lại các bài học tư tưởng, kinh nghiệm và trăn trở về một nước Nhật đang bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập.

Cá nhân mình thấy Khuyến Học vừa có điểm giống Đạo Đức Kinh của Lão Tử (ở chỗ bàn về việc đất nước, mối quan hệ giữa vua-dân hay chính phủ-người dân) và vừa giống Tôi Tự Học của cụ Nguyễn Duy Cần (ở những bài học cho người trẻ dưới góc độ cá nhân).

Các ý tưởng chính của cuốn sách:

1. Về quan hệ giữa chính phủ và người dân

Người dân bầu ra chính phủ, trả tiền để duy trì bộ máy chính phủ, đổi lại nhận được sự bảo vệ và đảm bảo về quyền lợi cũng như sự yên ổn để làm ăn. Quan hệ này giống như một dạng khế ước, hợp đồng có qua có lại. 

Trước thời Minh Trị, nước Nhật cũng sống trong một chế độ quân chủ mà ở đó tầng lớp xã hội được phân chia rõ ràng: dân thường không dám nhìn mặt vua quan mà phải cúi rạp đầu, chỉ cần trái ý samurai (võ sĩ) là sẽ bị chém đầu mà không cần lý do. Một xã hội như vậy đã kiềm chế việc người dân có những ý tưởng sáng tạo hay sở hữu tư liệu cần thiết để phục vụ sản xuất, là một xã hội phong kiến điển hình. 

Sau cải cách, Nhật Bản tiến đến một xã hội dân chủ nơi mà quan hệ giữa nhà nước và nhân dân được định hình thông qua luật lệ, nơi mà mỗi người dân đều coi như đã chấp thuận ký vào bản hợp đồng chung, sống trong xã hội đó và tuân thủ theo các điều lệ đã được quy định. Tư tưởng này có thể được coi là cấp tiến so với thời đại, nhất là khi chỉ cách đó không lâu, người Nhật vẫn còn cần khúm núm trước quan chức, lo sợ về cuộc sống ngày mai, không được tự do rời khỏi nơi cư trú. Nếu ở thời điểm hiện tại, ta sẽ thấy ý tưởng này – một nền dân chủ dựa trên luật pháp – là hết sức bình thường, nhưng xét theo bối cảnh lịch sử thì Fukuzawa có lẽ đã đi trước thời đại cả trăm năm (tất nhiên là so với các quốc gia châu Á).

2. Về thái độ và tinh thần vì lẽ phải.

Fukuzawa cho rằng, sau khi đã chấp nhận bản khế ước xã hội, mỗi người dân, dù cho có bức xúc hay khó chịu thế nào, cũng không được tự ý phá vỡ luật lệ. Giả sử căn nhà của bạn bị trộm đột nhập, bạn có bắt được kẻ trộm cũng không được tự ý đánh đập (hay thậm chí là đánh chết) tên trộm mà cần phải thông báo đến những người có thẩm quyền. Hay cho dù có bất mãn về một điều luật nào đó thì cũng không được tự ý phá bỏ nó, mà cần góp ý với chính phủ để thay đổi, kiên quyết dùng lý lẽ thay vì bạo lực. Giả như nói một lần chính phủ chưa thay đổi, phải kiên trì nói tiếp trong hàng tháng, hàng năm, cho dù có phải đánh đổi thời gian và sinh mạng thì cũng vẫn dùng lời nói để thuyết phục thay vì sử dụng vũ lực. 

Mình nhớ vài năm trước vẫn còn hay nghe tin ở các làng quê Việt Nam, có những người trộm chó bị đánh đến tàn tật hoặc đánh đến  chết, thì 150 năm trước, suy nghĩ thượng tôn pháp luật và dùng lý lẽ để giải quyết của Fukuzawa thật đáng nể phục. Chỉ khi tất cả người dân đều làm được như thế, thì xã hội mới có thể vận hành một cách trật tự và tránh hỗn loạn. 

Về phần kiên quyết sử dụng lý lẽ thuyết phục thay vì sức mạnh, mình đồng ý khoảng 90%. Mình cho rằng, ở những nơi mà pháp luật càng uy nghiêm, và niềm tin vào pháp luật trong xã hội cao, thì mọi người có xu hướng đàm phán với nhau dựa trên cơ sở luật pháp, còn nơi nào mà luật không nghiêm, có những cá nhân hay tổ chức “đứng trên luật”, niềm tin vào tính minh bạch và công lý không còn, khi đó con người ta sẽ muốn tự mình thực thi công lý. Trong một số trường hợp, “ta càng nhượng bộ, chúng càng lấn tới” là như vậy, lúc này rất có thể chỉ có bạo lực mới giải quyết được vấn đề. Ý tưởng của tác giả có phần lý tưởng hóa thực tế, nhưng dù sao cũng rất đáng hoan nghênh. Và nếu mỗi người đều có tư duy cởi mở và tinh thần hợp tác, thì đúng là chỉ cần kiên trì giảng giải, nhất định lẽ phải sẽ được tiếp thu. 

3. Trăn trở về sự phát triển của Nhật Bản

Tác giả bày tỏ nỗi trăn trở của mình về khoảng cách văn minh giữa nước Nhật và phương Tây tại thời điểm bấy giờ, rằng vì người Nhật không làm được cách công việc phức tạp nên phải thuê người nước ngoài với giá cao, và vì sản xuất nghèo nàn nên luôn phải nhập số lượng lớn hàng hóa từ các quốc gia khác. 

Để Nhật Bản có thể sánh ngang với những nước phương Tây, mỗi người Nhật đều phải ra sức học tập cái hay của họ, phải biết hổ thẹn khi thấy người Nhật bị coi thường.

Tác giả có đề cập đến ví dụ khi một nhân viên người Nhật đi thương thảo làm ăn, gặp ông Tây cao lớn quá mà run rẩy khép nép không dám nói năng gì nữa, thành ra hỏng việc. Điều này làm mình lại nhớ đến một video Ted Talks của chị Huyền Chip, khi mà ta tưởng như thế giới đã phẳng, thì visa/hộ chiếu lại xuất hiện như một hình thức phân biệt giữa các dân tộc, quốc gia khác nhau. Vậy nên, chỉ còn một cách là tự bản thân mỗi người dân của một đất nước cần phải cố gắng học hành và làm việc, để đưa đất nước phát triển. Song song với đó, quốc gia cũng cần có các chính sách hội nhập, rộng mở tiếp thu những thứ tiến bộ của nhân loại. 

Tác giả có nói rằng nên tiếp thu văn minh Tây phương, nhưng đồng thời không được quá vội vàng mà đập bỏ hết những thành tựu văn hóa và bản sắc của người Nhật. Không phải cứ Tây là tốt mà cứ ta là xấu. Và nhìn vào Nhật Bản ngày nay, ta không khỏi trầm trồ vì sự phát triển đỉnh cao về khoa học công nghệ trong khi vẫn giữ được rất nhiều nét văn hóa đặc trưng.

4. Về sự học của mỗi cá nhân.

Theo Fukuzawa, mỗi cá nhân cần vượt lên trên những mong muốn thông thường để hướng tới những điều lớn lao hơn. Ông không chê trách những người phấn đấu để có được một ngôi nhà, hay hạnh phúc với việc nuôi được gia đình con cái. Song, ông cho rằng đó chỉ là những nhu cầu hết sức cơ bản của động vật mà thôi, rằng mỗi con người nên suy nghĩ đến việc mình có thể làm gì cho xã hội, góp phần vào sự tiến bộ của nhân loại. Điều này mình nghĩ là đúng, mỗi chúng ta nên có một (vài) ước mơ lớn lao để thúc đẩy bản thân, nhưng đồng thời cũng không thể phủ nhận rằng chỉ khi các nhu cầu cơ bản được đáp ứng thì ta mới dễ dàng mơ những giấc mơ vĩ đại hơn được.